Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ổn định

Thị trường lúa gạo ngày 27/7 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận diễn biến khá trầm lắng khi hầu hết các mặt hàng đều giữ nguyên mặt bằng giá so với cuối tuần trước. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, nguồn cung ổn định trong khi nhu cầu giao dịch không có nhiều thay đổi khiến giá lúa và gạo duy trì trạng thái cân bằng.

Ở nhóm gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, gạo IR 504 được giao dịch trong khoảng 9.500 - 9.600 đồng/kg. Gạo CL 555 dao động từ 9.700 - 9.800 đồng/kg, tiếp tục là nhóm có mức giá cao trong phân khúc gạo trắng.

Một số chủng loại khác cũng giữ giá ổn định như gạo nguyên liệu OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg. Trong khi đó, gạo OM 380 và Sóc Thơm cùng được thu mua quanh ngưỡng 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Đối với phụ phẩm, giá cám và tấm thơm tiếp tục ổn định. Tấm thơm được giao dịch từ 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động trong khoảng 7.900 - 8.050 đồng/kg.

Giá lúa tươi và gạo bán lẻ không biến động

Ở phân khúc lúa tươi, các M88 tỷ lệ kèo World Cup 2026 và thương lái vẫn thu mua với mức giá tương đương những phiên gần đây.

Cụ thể, lúa IR 50404 tươi được giao dịch ở mức 6.200 đồng/kg. Lúa Đài Thơm 8 dao động từ 6.850 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.800 - 7.000 đồng/kg; lúa OM 5451 từ 6.200 - 6.400 đồng/kg; còn lúa OM 34 dao động 6.100 - 6.300 đồng/kg.

(Ảnh: Internet)

Trong khi đó, thị trường gạo bán lẻ tại các chợ truyền thống tiếp tục duy trì mặt bằng giá ổn định.

Gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo Nhật khoảng 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động từ 20.000 - 22.000 đồng/kg.

Các dòng gạo phổ thông như Jasmine có giá 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm và OM 18 cùng dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg; gạo thường ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.

Đối với mặt hàng nếp, giá tiếp tục đi ngang. Nếp IR 4625 tươi được giao dịch từ 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp khô 3 tháng dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu giữ vững, xuất khẩu vượt 5,3 triệu tấn

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không có nhiều thay đổi so với cuối tuần.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 - 550 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động từ 500 - 510 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm được giao dịch trong khoảng 353 - 357 USD/tấn.

So với các nước xuất khẩu lớn trong khu vực, giá gạo Thái Lan hiện ở mức 445 - 449 USD/tấn đối với gạo 5% tấm và 390 - 394 USD/tấn đối với gạo 100% tấm. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán từ 361 - 365 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 290 - 294 USD/tấn.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Bộ Công Thương, tính đến ngày 15/7, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 5,3 triệu tấn gạo, thu về 2,52 tỷ USD, tăng 6,5% về khối lượng so với cùng kỳ năm trước.

Dù khối lượng xuất khẩu tăng trưởng tích cực, giá xuất khẩu bình quân trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 460 USD/tấn, giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm 2025 do tác động từ nguồn cung dồi dào trên thị trường thế giới và áp lực cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu lớn.

Philippines tiếp tục là thị trường M888 thắng lớn mỗi ngày gạo lớn nhất của Việt Nam khi chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc đứng thứ hai với 19,4%, tiếp theo là Ghana với 8,5%, cho thấy gạo Việt Nam vẫn giữ được lợi thế tại nhiều thị trường trọng điểm.

Thảo Phương